Cùng với hoa nến, hương là một thành phần dường như không thể thiếu trong các nghi thức và nghi lễ của hầu hết mọi văn hóa. Đốt nhang, xông xương mang nhiều ý nghĩa thực dụng và tượng trưng.

Vì có mùi thơm dễ chịu nên ở Đông Phương cổ điển, hương trầm là phương tiện để tẩy uế mùi hôi thối, sát trùng, làm mê và để đuổi xua ruồi muỗi. Thời đó, các nhà quý phái đi đâu thì thường có người xông hương đi trước. Cũng vậy, trong thời Rô-ma, hương khói là đặc ân danh dự dành cho vua chúa và các công chức cao cấp; và người ta để hương án trước các tượng ảnh của Hoàng Đế mà họ tôn thờ.

Người Ai-cập gọi hương trầm là một hình thức tỏ hiện của thế giới siêu nhiên: hương trầm là “mồ hôi của trời rơi xuống đất.” Hương khói bay cao trong nghi thức an táng được coi như là một dấu chỉ hướng về cõi phúc. Chất liệu này còn được dùng như là một phương tiện xua đuổi sự bất lành, ma tà. Người Do-thái luôn có một hương án trước lều của Gia-vê, khi họ còn là những người du mục cũng như khi họ đã có Đền Thờ, mà nguyên liệu cũng như cách trình bày được ấn định rõ rệt (Xh 30,1tt.).

Là sản phẩm quý nên hương trầm còn là một thành phần của lễ vật dâng hiến cho Thiên Chúa. Ba Vua đã dâng tiến Đấng Hài Nhi vàng, nhũ hương và mộc dược (Mt 2,11). Hương trầm là một “phần cực thánh” chỉ dành dâng cho Gia-vê. Công tác phục vụ dâng hương trong Đền Thờ là một đặc ân của dòng họ A-ha-ron (Ds 17,16tt.), được quyết định bằng việc bốc thăm (Lc 1,9). Làn khói thơm bay bổng được nhìn như là một biểu tượng cho lời kinh nguyện: “Ước chi lời con nguyện, như hương trầm bay tỏa trước nhan Chúa” (Tv 141,2; Kh 5,8). Dâng hương như vậy biểu lộ lòng cung kính và sự tôn thờ (Jes 60,6).

Lúc đầu, người Ki-tô hữu ngần ngại không dùng hương, vì nó được các dân ngoại dùng đến. Nhất là trong thời bị bách hại, khi dâng hương trước ảnh Hoàng Đế là một cách tuyên xưng niềm tin vào quốc giáo và từ bỏ niềm tin của mình. Đến thế kỷ thứ 4, Giáo Hội Đông Phương đã có thói quen dùng hương trong phụng vụ của mình; rồi từ đó, tập tục này được lan tràn qua Tây Phương. Vào giai đoạn đầu, hương trầm chỉ được sử dụng trong nghi thức an táng và trong các cuộc rước. Về sau, vào thời Hoàng Đế Konstantin, dựa theo các nghi thức ở triều đình, người ta xông hương khi Đức Giáo Hoàng tiến vào nhà thờ để tỏ hiện sự tôn trọng và cung kính. Dần dần, việc xông hương đã trở nên một thành phần của nghi thức đầu lễ.

Trong Thánh Lễ Chúa Nhật hay lễ trọng, linh mục có thể xông hương bàn thờ lúc đầu lễ trên sách Tin Mừng, trên các lễ phẩm đặt trên bàn thờ và trên chính bàn thờ. Còn phó tế hay người giúp lễ xông hương cho linh mục và cộng đoàn hiện diện (27tt.). Xông hương hình Thánh Giá trên của lễ là dấu chỉ sự liên hệ với hiến tế thập giá Đức Ki-tô; xông hình tròn đánh dấu sự tách biệt: rằng của lễ chỉ thuộc về Thiên Chúa. Xông hương sách Tin Mừng để tỏ bày sự tôn kính Đức Ki-tô, đồng thời tượng trưng cho hương thơm của giáo lý và của Lời Chúa đến với tín hữu.

Trong Thánh Lễ, linh mục (hay giám mục) bỏ hương vào bình và làm phép bằng một Dấu Thánh Giá. Như vậy, xông hương là một cử chỉ chúc lành, thể hiện sự kính tôn và vinh dự.

 

Có thể nói: từ trước Công Đồng Vaticanô II (1962-1965) việc rước Mình Thánh Chúa (rước lễ) chỉ được trao trên lưỡi mà thôi. Nghĩa là không ai được phép rước lễ bằng tay ở bất cứ nơi nào trong Giáo Hội Công Giáo.

Nhưng sau Công Đồng, nhiều cải cách quan trọng đã được thực hiện. Liên quan đến phụng vụ thánh, thì Nghi Thức Thánh Lễ mới (Novus Ordo) được Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành năm 1970, đã cho phép cử hành Thánh Lễ Misa và các bí tích khác bằng ngôn ngữ địa phương thay vì bằng tiếng Latinh theo nghi thức cũ áp dụng từ năm 1570.

Cũng nằm trong những đích cải cách này, thì đặc biệt, việc rước lễ đã được phép lãnh nhận trên tay thay vì buộc phải trên lưỡi như trước. Nhưng đây không phải là luật mới bó buộc mà chỉ là sự chọn lựa được phép mà thôi. Nghĩa là ai muốn rước lễ bằng lưỡi hay trên lòng bàn tay thì đều được phép.

Về việc này, Huấn Thị Redemptionis Sacramentum (*) đã nhắc lại như sau:

“Mặc dù mỗi tín hữu luôn luôn có quyền rước Lễ trên lưỡi theo sở thích của mình, nhưng nếu có ai muốn rước Lễ trên tay thì Mình Thánh Chúa phải được trao cho người đó ở những nơi mà Hội Đồng Giám Mục, với sự nhìn nhận (recognitio) của Toà Thánh, đã cho phép.

Tuy nhiên, phải hết sức thận trọng để bảo đảm rằng Mình Thánh Chúa được rước ngay vào lòng (tức bỏ vào miệng) trước mặt thừa tác viên trao Mình Thánh. Nghĩa là không ai được phép cầm Mình Thánh Chúa đi đâu trên tay. Nếu có nguy cơ tục hóa, phạm thánh (profanation) trong việc này, thì Mình Thánh Chúa sẽ không được phép trao vào tay tín hữu nữa.” (số 92)

Nói rõ thêm, nếu Hội Đồng Giám Mục địa phương thấy tiện và xin phép Toà Thánh, thì việc rước lễ có thể được lãnh nhận trên tay thay vì trên lưỡi như xưa. Như vậy, nơi nào Hội Đồng Giám Mục cho phép thì Toà Thánh ưng thuận và việc rước lễ cách này là hợp pháp không có gì sai trái bất kính để phải thắc mắc, đặt vấn để đúng hay sai.

Có chăng chỉ nên lưu ý xem có sự lạm dụng, phạm thánh (sacrilege) nào trong việc này mà thôi. Nghĩa là nếu có ai rước lễ bằng tay nhưng đã không bỏ ngay Mình Thánh Chúa vào miệng trước mặt linh mục hay phó tế hoặc thừa tác viên giáo dân cho rước lễ, mà cầm Mình Thánh về chỗ ngồi, dù là để thờ lậy, thì cũng không được phép. Và ai chứng kiến việc này thì phải báo ngay cho cha chủ tế biết để lấy lại Mình Thánh kia, hoặc buộc người nhận lãnh phải bỏ ngay vào miệng. Nếu ở nơi nào thường xẩy ra tình trạng này thì cha xứ có lý do chính đáng để ngưng cho rước lễ bằng tay hầu tránh nguy cơ phạm thánh.

Như thế, khi trao Mình Thánh Chúa vào tay người nhận, thừa tác viên cần chú ý xem người đó có bỏ Mình Thánh ngay vào miệng sau khi thưa “Amen”, hay cầm Mình Thánh về chỗ ngồi để làm gì. Việc này đã xẩy ra ở nhiều nơi, nên cần chú ý để ngăn chặn kịp thời.

Tóm lại: Qua Tông Thư nói trên, chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép rước Mình Thánh Chúa trên tay, hoặc trên lưỡi.

Thánh Bộ Phụng Tự đã minh xác những thay đổi nói trên và cho áp dụng chung trong toàn Giáo Hội cho đến nay. Vậy bao lâu chưa có quyết định thay đổi nào khác của Toà Thánh, thì mọi thành phần dân Chúa – giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – có bổn phận vâng phục thi hành nghiêm chỉnh. Không ai được phép đưa ra những lý do chủ quan, cá nhân để phê phán hay đòi sửa đổi theo ý của mình. Giáo Hội phải theo kỷ luật chung của Hàng Giáo Phẩm dưới quyền lãnh đạo tối cao của Đức Thánh Cha là Đại Diện duy nhất và hợp pháp của Chúa Kitô trên trần gian. Không tôn nguyên tắc này thì không còn là Giáo Hội nữa.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 

Sau khi bàn về nghi thức đầu lễ, giờ đây chúng ta hãy xét đến Phụng Vụ Lời Chúa, là một phần cấu thành [của Thánh Lễ] bởi vì chúng ta tụ họp để lắng nghe những gì Thiên Chúa đã làm và vẫn còn có ý định làm cho chúng ta. Đó là một kinh nghiệm “trực tiếp” chứ không phải do được nghe nói đến, bởi vì “trong Hội Thánh khi Thánh Kinh được đọc, thì Chính Thiên Chúa nói với dân Ngài, và Đức Kitô, hiện diện trong Lời, công bố Tin Mừng” Khi chúng ta đọc Lời Chúa trong Thánh Kinh -  chúng ta phải lắng nghe, mở lòng ra, bởi vì chính Thiên Chúa là Đấng nói với chúng ta, và đừng nghĩ về những điều khác hay nói về những điều khác.

Các trang Thánh Kinh không còn là một bài viết mà trở thành Lời sống động được Thiên Chúa công bố. Chính Thiên Chúa là Đấng, qua người đọc, nói với chúng ta và thách đố chúng ta, là những người nghe với đức tin. Chúa Thánh Thần, Đấng “đã dùng các tiên tri mà phán dạy", và đã linh hứng các thánh ký, làm cho "Lời Chúa thực sự tác động trong tâm hồn điều mà Ngài làm cho vang lên trong tai". Nhưng để lắng nghe Lời Chúa thì cần phải mở lòng ra mà đón nhận các Lời ấy vào lòng. Điều rất quan trọng là lắng nghe. Đôi khi chúng ta có thể không hiểu tại sao lại có một số bài đọc hơi khó hiểu. Nhưng Thiên Chúa nói cùng Lời ấy với chúng ta bằng một cách khác, trong thầm lặng và lắng nghe Lời Chúa.

Chúng ta cần lắng nghe Ngài! Thực ra, đó là một vấn đề sự sống, như một diễn tả sâu sắc rằng, "người ta sống không chỉ bởi cơm bánh, mà còn bởi mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra" (Mt 4:4). Sự sống mà Lời Thiên Chúa ban cho chúng ta. Theo nghĩa này, chúng ta nói về Phụng Vụ Lời Chúa như "bàn tiệc" mà Chúa dọn ra để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta. Đó là một bán tiệc tràn đầy của phụng vụ, rút ra rộng rãi từ kho tàng Thánh Kinh. Chúng ta nghĩ về sự phong phú của các bài đọc Thánh Kinh được ba chu kỳ Chúa Nhật cung cấp mà, theo ánh sáng của các Tin Mừng Nhất Lãm, đồng hành với chúng ta trong suốt Năm Phụng Vụ: một sự phong phú dồi dào. Tôi cũng muốn đề cập đến ở đây tầm quan trọng của Thánh Vịnh đáp ca, có chức năng nuôi dưỡng việc suy niệm về điều đã được nghe trong bài đọc trước đó. Tốt hơn là bài Thánh Vịnh được củng cố bằng bài hát, ít là trong điệp khúc.

Việc công bố phụng vụ cũng những Bài Đọc ấy, với những bài hát được rút ra từ Thánh Kinh, bày tỏ và nuôi dưỡng sự hiệp thông của Hội Thánh, đồng hành với cuộc hành trình của mỗi người chúng ta.  Cho nên, chúng ta có thể hiểu được tại sao một số chọn lựa chủ quan, như bỏ các Bài Đọc hay thay thế chúng bằng các bản văn ngoài Thánh Kinh, đều bị cấm. Ở đây chúng ta đọc Lời của Thiên Chúa, Đấng nói với chúng ta. Thay thế Lời ấy bằng những điều khác làm cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài trong cầu nguyện bị nghèo nàn và tổn thương. Đàng khác, việc tôn trọng toà giảng và việc sử dụng Sách Bài Đọc, việc có sẵn những người đọc và những người hát Thánh Vịnh tốt [là điều bắt buộc]. Nhưng chúng ta phải tìm những người đọc tốt, những người có thể đọc, chứ không phải những người đọc [sai các lời] khiến cho người ta chẳng hiểu gì cả. Giống như thế này. Những người đọc tốt. Họ phải chuẩn bị và thử trước Thánh Lễ để đọc cho tốt. Và điều này tạo ra một bầu không khí đón nhận im lặng.

Chắc chắn rằng chỉ nghe bằng tai, mà không đón nhận hạt giống Lời Chúa vào tâm hồn mình và để cho hạt giống ấy sinh hoa trái, thì chưa đủ. Chúng ta hãy nhớ lại dụ ngôn người gieo giống và các kết quả khác nhau tuỳ theo các loại đất khác nhau (xem Mc 4: 14-20). Tác động của Chúa Thánh Thần, là điều làm cho sự đáp trả có hiệu quả, cần những tâm hồn để cho mình được Ngài làm việc và vun xới, ngõ hầu những gì được nghe trong Thánh Lễ chuyển sang cuộc sống hằng ngày, theo lời khuyên của Thánh Tông Đồ Giacôbê: "Anh em hãy là những người thực hành Lời Chúa, chứ không phải chỉ là những người nghe suông mà lừa dối chính mình" (Gc 1:22). Lời Chúa hành trình trong chúng ta. Chúng ta lắng nghe Lời ấy bằng tai của mình và chuyển Lời ấy sang tâm hồn mình; Lời ấy không ở lại trong tai, mà phải đi vào tâm hồn; và từ tâm hồn Lời ấy chuyền sang đôi tay, để làm việc lành. Đây là con đường mà Lời Chúa đi theo: từ tai đến tâm hồn và đôi tay. Chúng ta hãy học những điều này. Cảm ơn anh chị em!

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

 

Trong phần học hỏi về thánh lễ tháng này, chúng ta tạm dừng tài liệu của chúng ta để đọc thêm về giáo lý của Đức Thánh Cha Phanxico về Kinh Vinh Danh và lời tổng nguyện đầu lễ.

 

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong các bài Giáo Lý về việc cử hành Thánh Lễ, chúng ta đã thấy rằng cử chỉ sám hối giúp chúng ta lột bỏ những tự phụ của mình và trình bày trước mặt Thiên Chúa thực trạng của mình là những người tội lỗi và hy vọng được ơn tha thứ.

Chính từ cuộc gặp gỡ giữa cảnh khốn cùng của con người và lòng thương xót của Thiên Chúa đưa đến lòng biết ơn được bày tỏ trong kinh “Vinh Danh”, “một bài thánh thi rất cổ kính và đáng kính, trong đó Hội Thánh, tập trung trong Chúa Thánh Thần, ca ngợi và nài xin Đức Chúa Cha và Con Chiên” (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 53).

Lời mở đầu của bài thánh thi này - “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời” - tiếp tục bài hát của các Thiên Thần khi Chúa Giêsu ra đời ở Bethlehem, lời loan báo vui mừng về vòng tay ôm ấp giữa trời và đất. Bài hát này cũng liên quan đến việc chúng ta tụ tập trong cầu nguyện: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Sau kinh “Vinh Danh”, hoặc, khi không có kinh ấy, thì ngay sau cử chỉ sám hối, kinh nguyện có một hình thức cầu nguyện đặc biệt gọi là “colletta” (Lời Nguyện Nhập Lễ), mà qua đó đặc tính chính xác của cuộc cử hành được diễn tả, được thay đổi theo ngày và giờ trong năm (x. ibid, 54). Với lời mời “Chúng ta hãy cầu nguyện”, vị linh mục khuyên nhủ dân chúng cùng hồi tâm với ngài trong một lúc im lặng để ý thức rằng mình đang ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa và mỗi người nói lên trong lòng mình những ý chỉ riêng mà với chúng họ tham dự Thánh Lễ (xem ibid., 54). Linh mục nói “chúng ta hãy cầu nguyện”; và sau đó đến một lúc im lặng, và mỗi người nghĩ về những điều mình cần và mình muốn xin trong lời nguyện này.

Sự im lặng không chỉ rút lại thành việc không có tiếng nói, nhưng là chuẩn bị sẵn sàng để lắng nghe những tiếng nói khác: của tâm hồn chúng ta, và trên hết là tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Trong phụng vụ, bản chất của sự im lặng thánh thiêng tùy thuộc vào thời điểm mà nó xảy ra: “Trong cử chỉ sám hối và sau lời mời cầu nguyện, nó giúp cho việc hồi tâm; sau bài đọc hoặc bài giảng, nó là một lời mởi gọi để suy niệm một cách ngắn gọn về những gì đã nghe; sau khi Rước Lễ, nó giúp cho việc cầu nguyện ngợi khen và khẩn cầu nội tâm” (ibid., 45). Vì vậy, trước Lời Nguyện Nhập Lễ, sự im lặng giúp chúng ta chú tâm vào chính mình và suy nghĩ về lý do tại sao chúng ta ở đó. Cho nên, việc lắng nghe tâm hồn chúng ta ở đây và sau đó mở nó cho Chúa là điều quan trọng. Có lẽ chúng ta đến từ những ngày khó nhọc, vui mừng, đau buồn, và chúng ta muốn thưa chuyện với Chúa, cầu khẩn sự giúp đỡ của Ngài, để xin Ngài ở gần chúng ta; chúng ta có các phần tử trong gia đình và bạn bè đang bị ốm đau hoặc đang trải qua những thử thách khó khăn; chúng ta muốn trao phó cho Thiên Chúa số phận của Hội Thánh và thế giới. Và đó là lý do tại sao chúng ta cần phút im lặng ngắn này trước khi vị linh mục, thu thập những ý chỉ của mỗi người, lớn tiếng thay mặt tất cả mọi người trình bày nó lên Thiên Chúa, lời cầu nguyện chung kết thúc các nghi thức đầu lễ, bằng cách làm chính việc “thu thập” các ý chỉ cá nhân. Tôi chân thành khuyên các linh mục giữ phút im lặng này và đừng vội vã: “chúng ta hãy cầu nguyện”, và hãy im lặng. Tôi đề nghị điều này với các linh mục. Nếu không có phút im lặng này, có nguy cơ bỏ qua việc hồi tâm của linh hồn.

Các linh mục đọc lời cầu khẩn này, lời tổng nguyện (Lời Nguyện Nhập Lễ) này, với cánh tay dang rộng, là tư thế của người cầu nguyện, được các Kitô hữu thực hiện ngay từ các thế kỷ đầu - được minh chứng bởi các bức họa của các hang toại đạo ở Rôma – để bắt chước Đức Kitô với đôi tay rộng mở trên cây gỗ thập giá. Và ở đó, Đức Kitô là Đấng Cầu Nguyện và là cùng nhau cầu nguyện! Trong Đấng Chịu Đóng Đanh, chúng ta nhận ra vị Linh Mục đang dâng lên Thiên Chúa sự thờ phượng mà Ngài vui lòng, đó là sự vâng phục con thảo.

Trong Nghi Thức Rôma, các lời cầu nguyện đều chính xác nhưng đầy ý nghĩa: có thể thực hiện nhiều suy niệm đẹp về các lời cầu nguyện này. Quá đẹp! Trở lại việc suy niệm về các bản văn, ngay cả ngoài Thánh Lễ, có thể giúp chúng ta học cách hướng về Thiên Chúa ra sao, cầu xin gì, sử dụng những lời nào. Nguyện xin phụng vụ trở thành một trường dạy cầu nguyện đích thực cho tất cả chúng ta.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

 

Là một trong những lời quý hóa nhất mà truyền thống cầu nguyện của Giáo hội lưu truyền lại từ buổi ban đầu. Cũng như A-men, Ha-lê-lui-a được dùng nguyên âm tiếng Híp-ri và có nghĩa là “Hãy ngợi khen Đức Chúa!” Lời chúc tụng Thiên Chúa và hoan hỷ mừng Giê-ru-sa-lem mới này (Tb 13,18) đến từ phụng vụ Do-thái, được dùng để chào mừng Con Chiên (Kh 19,1-7).

Trong Thánh Lễ, đây là lời tung hô Chúa Ki-tô trước khi công bố Tin Mừng, để chúc tụng ngợi khen Đấng hiện diện trong Lời của Người. Cũng trong ý niệm này, lời “Tung hô Tin Mừng” được đọc hoặc hát giữa hai lần Ha-lê-lui-a, được trích từ Bài Tin Mừng của ngày lễ. Cộng đoàn đứng lên khi bắt đầu hát Ha-lê-lui-a. Trong phụng vụ Tây Ban Nha cổ, người ta còn hát Ha-lê-lui-a sau khi nghe đọc Tin Mừng. Vào thời thượng cổ, Ha-lê-lui-a được các Ki-tô hữu hát ngoài phụng vụ, ngay cả trong lúc làm việc. Rất được ưa chuộng là việc ngâm nga không lời vào âm cuối (a).

Vị trí đặc biệt của Ha-lê-lui-a là trong mùa Phục Sinh. Đây không phải là một lời mà là một tiếng gọi, một âm vang mừng, nên cần phải được hát thì hợp lý hơn là đọc. Do vậy, trong Mùa Chay - mùa tưởng niệm mầu nhiệm khổ nạn của Đức Ki-tô - chúng ta không hát Ha-lê-lui-a. Lời tung hô Tin Mừng trong Mùa Chay cũng không có Ha-lê-lui-a bao quanh – cho đến khi Ha-lê-lui-a lại thoát vang từ bóng tối của đau khổ và từ cõi chết nhờ sự sống lại của Đức Giê-su. Sau Lễ Phục Sinh, Ha-lê-lui-a cùng đồng hành với cộng đoàn, mỗi khi có cử hành phụng vụ Lời Chúa. Trong Tân Ước, Ha-lê-lui-a chỉ được dùng trong sách Khải Huyền (19, 1.3.4.6). Có nhiều thánh vịnh được bắt đầu bằng lời tung hô Ha-lê-lui-a (105-107. 111-114.146-150).