Ông từ

là người coi sóc nhà thờ và thường ở cạnh bên. Ông từ có nhiệm vụ chuẩn bị bàn thờ (và nhà thờ) cho Thánh Lễ, cũng như cho các nghi thức phụng vụ khác. Giật chuông, mở đóng cửa cũng là công việc của ông từ. Không chỉ lo lắng cho sự sạch sẽ của nhà thờ, các vật dụng dành cho phụng vụ và cho trật tự bên ngoài, ông còn giúp đỡ trong việc tạo bầu khí trang nghiêm trong phòng thánh trước khi các nghi thức được cử hành. Ở nhiều nơi, làm ông từ là một công việc tình nguyện.

Phẩm phục

Trong mọi nền văn hóa và qua các thời đại, phẩm phục là một phương tiện để biểu lộ chức vụ và giai cấp. Phẩm phục nâng nhấc kẻ mang nó lên một trách nhiệm đặc biệt và cao hơn mọi người. Những gì thuộc về cá nhân được đẩy lùi lại phía sau, khi người mang phẩm phục thực hiện vai trò của mình.

Cho rằng chỉ những gì quí hóa và đẹp đẽ nhất mới xứng đáng cho Thiên Chúa, sách Xuất Hành ấn định tỉ mỉ rõ ràng về người, cách may, chất liệu của các phẩm phục và dụng cụ dùng trong Đền Thờ. Từ ban đầu, đã có yêu cầu cần những áo quần trang trọng và chỉ dành riêng cho các nghi thức phụng vụ. Sau thay đổi thời Konstantin vào thế kỷ thứ 4, hàng giáo sĩ có một chỗ đứng chắc chắn trong trật tự xã hội. Và vì thế, họ được quyền mang phù hiệu và phẩm phục dành riêng cho các giai cấp cao. Dưới thời Karolinger (thế kỷ thứ 7-8), mỗi phần của lễ phục được làm phép, mang một ý nghĩa riêng và có một lời nguyện được đọc trước khi mặc. Hình thức và chất liệu cho phẩm phục thì do Hội Đồng Giám Mục ấn định (304-305).

Phẩm phục được mặc trong Thánh Lễ tùy theo chức vụ khác nhau của đoàn hành lễ: giám mục, linh mục, phó tế, giúp lễ hay cá thừa tác viên phụng vụ khác, và làm tăng thêm sự trang trọng của các nghi thức phụng vụ. Các phẩm phục ngày nay có nguồn gốc từ thời Rô-ma và có 3 phần chính: áo lễ (Kasel), áo dài trắng (Albe) và dây các phép (Stola). Áo lễ xuất phát từ áo choàng ngoài để che nắng che mưa của người Rô-ma bình dân. Từ thế kỷ thứ 4, áo bào này cũng được mặc trong các dịp lễ. Các lễ phục được phát triển dần dần từ nhiều lý do khác nhau.

Màu sắc tự chúng có sức thể hiện mạnh, nên vẫn được dùng như những biểu tượng trong mọi văn hóa. Các màu phụng vụ Ki-tô Giáo đến từ lãnh vực thường dân. Ở đó, màu sắc biểu hiện cho chức vị, cơ nghiệp và sự linh đình của các ngày lễ.

Trên các hình khảm (Mosaik) thời Ki-tô Giáo sơ khai, các giám mục mặc áo choàng màu áo đỏ sẫm; phó tế hầu như chỉ mang màu trắng. Từ thời Karolinger (thế kỷ thứ 8/9), người ta bắt đầu phân chia màu sắc cho các lễ. Ấn định chính thức về màu sắc phụng vụ có từ thế kỷ 13 dưới thời Giáo Hoàng Innozenz III (+1216), và trở thành luật buộc cho phụng vụ Rô-ma sau Công Đồng Trient (1540-1563).   

Đúng ra, Thánh Lễ được bắt đầu với Bí Tích Rửa Tội để nhập đạo. Lúc đó, người rửa tội đổ nước lên đầu thỉnh nhân và nói: “Tôi rửa T., nhân danh Chúa Cha và Chúa con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Nền tảng và việc bắt đầu cuộc sống niềm tin Ki-tô Giáo được nhắc lại, khi mỗi khi người tín hữu giơ tay nhúng vào bình nước thánh nơi cửa nhà thờ, rồi làm Dấu Thánh Giá nhân danh Chúa Ba Ngôi. Tập tục đạo đức này cũng như việc rảy Nước Thánh trên cộng đoàn trong nghi thức Sám Hối đầu lễ (Esperge) đã có từ thế kỷ thứ 8. Những cử chỉ này cũng đã được hiểu như là một hình thức thanh tẩy nội tâm, hay như một lời cầu xin Thiên Chúa thánh hóa cộng đoàn.

Bí tích Rửa Tội là cửa dẫn lối đến Bàn Tiệc Thánh và đến Bí Tích Thánh Thể. Tham dự Thánh Lễ là sống bí tích rửa tội, nên chỉ có ai đã được rửa tội thì mới tham dự Thánh Lễ cách trọn vẹn. Nước rửa tội dùng để làm dấu nơi cửa nhà thờ đã được làm phép trọng thể trong Đêm Phục Sinh - một tục lệ hình như đã có từ hậu bán thế kỷ ba. Nước Thánh cũng được dùng trong các nghi thức làm phép khác (nhà cửa, ảnh tượng...)

Chúng ta cũng nên nhớ rằng, khi Giáo Hội làm phép nước thì nước đó được gọi là Nước Thánh. Giáo hội làm phép Nước Thánh trước tiên là để dùng cho bí tích Thanh Tẩy – tức là bí tích rửa tội. Sau đó Nước Thánh đó được dùng cho các Á-bí-tích, tức là làm phép nhà, phép tượng ảnh, chấm và làm dấu thánh giá tại cửa nhà thờ…

Nước Thánh được Giáo Hội làm phép chỉ dùng để rảy chứ không dùng để uống. Nếu anh chị em xin linh mục ban phép lành cho nước uống, thì đó chỉ là nước được chúc lành chứ không là Nước Thánh. Nếu anh chị em đi hành hương tại Lộ Đức, Banneux mang nước tại đó về thì đó là nước được Đức Mẹ chúc lành chứ không phải là Nước Thánh.

Những thay đổi trong nghi lễ, được tạo ra bởi phong trào Cải Giáo và Chống Cải Giáo, cũng không khỏi gây ảnh hưởng đến kiến trúc nhà thờ. Công giáo cũng như Tin Lành đều nhấn mạnh việc thuyết giảng và lắng nghe Lời Chúa. Mặc dù trước đó đã có ghế trong nhà thờ, nhưng từ lúc này, người ta để ý đến phương tiện để ngồi trong nhà thờ nhiều hơn; nam nữ cũng được sắp xếp ngồi riêng biệt.

Thế kỷ thứ 18-20 là giai đoạn đình trệ ứ đọng, hiếm có những sáng kiến mới trong phụng vụ và kiến thiết nhà thờ. Đầu thế kỷ thứ 20, kiến trúc từ giã Duy Sử thuyết (Historismus) và sau đệ nhị thế chiến, các lối kiến trúc mới ngoài tôn giáo có tính thực dụng cũng ảnh hưởng đến việc xây nhà thờ. Nhưng các thúc đẩy có ảnh hưởng mạnh nhất đến từ “phong trào thay đổi phụng vụ”. Do việc nhấn mạnh tính cộng đoàn và vai trò chủ động không thể thiếu của tín hữu trong các nghi lễ, các kiến trúc nhà thờ phải là một mời gọi sự tham gia tích cực vào các nghi lễ. Mục đích này đòi hỏi vật liệu nguyên chất, cũng như những cách trang bị và tổ chức khác để đáp ứng được những nhu cầu của cộng đoàn. Bởi vậy, hình thức tròn hay bán nguyệt, không có những trang trí rườm rà nói chung được ưa chuộng - vì chúng giúp tập trung quy tụ người dự lễ. Kiến trúc, cuối cùng, phải giúp người tham dự Thánh Lễ hiểu rằng: quan trọng đối với một Thánh Đường không phải là kiểu cách hay khuôn khổ, mà là sự sống động vì Chúa ở giữa họ và bởi chính họ là “những viên đá sống động” để xây Nhà Chúa.  

Từ thế kỷ thứ 11-16, các nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc Gô-tic. Gô-tic diễn tả

lại sự tìm kiếm một dung hòa toàn diện trong trật tự của vũ trụ mà Thiên Chúa tạo
dựng nên; trong đó, vị trí của mỗi người đều được ấn định rõ ràng. Một đặc điểm
khác cho các nhà thờ thời này là ánh sáng - một nguyên tố được coi như là môi
trường huyền bí thích hợp nhất cho Thiên Chúa. Nhờ những sườn cong và những cột
chính to lớn đón chịu hết trọng lực của mái nhà, người ta có thể dùng cửa sổ màu để
trám các khoảng cách giữa các cột trụ. Cuối cùng, kiến trúc này là một biểu tượng
cho sự cực độ và siêu việt. Tháp, và nhất là các cột trong nhà thờ lôi kéo người nhìn
ngước cao để chiêm ngắm.
Trong khoảng cùng một thời gian tại Ý, người ta ưa chuộng lối xây nhà thờ được gọi
là Phục Hưng (Renaissance). Những kiến trúc “ôn lại” lối xây của thời Rô-ma này
cũng biểu hiện cho một quan niệm vũ trụ có trật tự đàng hoàng và lô-gic. Các công
trình xây cất nhà thờ trong thế kỷ thứ 16 phần lớn có mục đích biểu dương sự huy
hoàng của Rô-ma: rất đồ sộ, gây ấn tượng vào nhãn quan và lắm lúc cầu kỳ rườm rà.

 

  1. Giúp bạn hạn chế thời gian dùng thiết bị điện tử

Chắc hẳn ở đây có rất nhiều bạn trẻ thường dùng điện thoại trước khi đi ngủ và điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của bạn. Hãy thử thay đổi thói quen dùng điện thoại bằng việc đọc một vài trang sách trước khi đi ngủ bạn sẽ cảm thấy ngủ ngon hơn. Thư giãn bằng cách đọc sách tốt hơn rất nhiều so với việc lướt web trên điện thoại. Hãy tìm cho mình những cuốn sách thật nhẹ nhàng, bình yên để đọc vào buổi tối bạn nhé!

  1. Mở rộng kiến thức

Mỗi cuốn sách đều chứa đựng những bài học, kiến thức trong cuộc sống mà bạn khó có thể tìm được nếu suốt ngày chỉ biết cắm mặt vào điện thoại. Những giờ lướt web, những bài bóc phét trên mạng không thể giúp bạn trưởng thành được. Hãy thay những giờ lướt web vô bổ ấy bằng việc đọc sách điều này sẽ giúp bạn tốt lên mỗi ngày. Bạn có thể không tin vào những điều trong sách nói vì có thể nó chưa xảy ra trong cuộc đời bạn, thế nhưng sẽ có lúc nó xảy đến. Vậy nên, hãy đọc sách, đọc để bản thân có thêm nhiều kiến thức về cuộc sống.

 

  1. Giúp bạn hoàn thành ước mơ

Mọi người xung quanh có thể quay lưng với bạn nhưng sách thì không mà nó là người bạn đồng hành cùng chúng ta trên mọi nẻo đường. Khi bạn bế tắc, bạn bị cuộc sống vùi dập mất định hướng vào tương lai hãy đọc sách. Vì sách sẽ giúp bạn suy nghĩ tích cực và kiên định hơn với ước mơ của mình. Bạn sẽ không còn cảm thấy mất định hướng hay mệt mỏi vì phải nỗ lực khi biết xung quanh bạn cũng có rất nhiều người ngày đêm đang cố gắng.

  1. Giúp bạn giảm căng thẳng

Khi gặp áp lực trong cuộc sống hãy đọc sách, vì những lúc mất bình tĩnh, buồn bã, tiêu cực bạn thường sẽ khó có thể cân bằng cuộc sống. Lúc này hãy tìm đến sách, tập trung để hoàn thành cuốn sách giúp bạn quên đi áp lực, giảm căng thẳng. Và đợi bản thân bình tĩnh lại rồi chúng ta giải quyết những vấn đề của cuộc sống bạn nhé.

Bạn không thể thành công nếu vốn kiến thức hạn hẹp và không có chiều sâu trong suy nghĩ, sách sẽ là người bạn giúp bạn giải quyết những vấn đề trên. Thế nên hãy tập thói quen đọc sách mỗi ngày từ bây giờ, cuộc sống của bạn sẽ trở nên tốt đẹp hơn.