Linh mục làm chủ tọa Thánh Lễ và đại diện Chúa Ki-tô để cử hành nghi thức tưởng niệm Người. Vai trò này nổi bật trong nghi thức cử hành, do vị trí đặc biệt và do chức vụ của linh mục (5.7). Linh mục là những người “được thánh hiến theo hình ảnh Chúa Ki-tô, thầy cả Thượng Phẩm vĩnh viễn, để rao giảng Tin Mừng, chăn dắt tín hữu và cử hành việc phụng tự Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân Ước, và loan báo lời Thiên Chúa cho mọi người.” Họ là những người đàn ông với tuổi đời trên 25, đã lãnh nhận chức thánh sau một thời gian đào tạo ít nhất là 6 năm và sẵn sàng sống độc thân vĩnh viễn (GL 250.1031,1).

Linh mục là thành phần của hàng Giáo Sĩ trong phẩm trật Giáo Hội và hoạt động dưới quyền của các Giám Mục.  Nhiệm vụ cao quý nhất của linh mục là việc thực thi thánh vụ của mình trong Thánh Lễ: Khi linh mục “thay thế Chúa Ki-tô công bố mầu nhiệm của Chúa, kết hợp những ước nguyện của tín hữu vào hy tế của thủ lãnh họ, đồng thời trong hy lễ Thánh Lễ, các ngài hiện tại hóa và áp dụng hy tế duy nhất của Tân Ước là hy vật tinh tuyền của Chúa Ki-tô đã một lần tự dâng hiến lên Chúa Cha cho tới khi Chúa lại đến” (GH 28).

Trong chức vụ chủ tọa của cộng đoàn được triệu tập, linh mục mở đầu và nói lời nhắn nhủ, cũng như ban phép lành và kết thúc Thánh Lễ. Đọc Tin Mừng và diễn giảng còn là nhiệm vụ dành riêng cho linh mục (và phó tế). Ngài cũng đọc hay hát Kinh Tạ Ơn - điểm cao nhất của Thánh Lễ -, và các lời nguyện nguyện nhập lễ, tiến lễ và hiệp lễ. Nhân danh cộng đoàn hiện diện và toàn thể dân thánh, linh mục dâng các lời kinh nguyện lên Thiên Chúa (9tt).

 Khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, mọi tín hữu bước vào “hàng tư tế thánh”. Từ hàng ngũ này, Thiên Chúa kêu gọi một số tín hữu và trao cho họ trách nhiệm hướng dẫn cộng đoàn Họ là những người được Đức Ki-tô sai đặt làm mục tử, cũng như chính Người được Cha sai đi như là mục tử (Ga 20,21).

Đức Giê-su đã chọn 12 Tông Đồ để trao cho họ trách nhiệm trong Giáo Hội của Người. Chính Người đã chuẩn bị và đã giao phó cho họ toàn quyền việc phục vụ Lời Chúa (Mt 10,8.40; 18,18). Trong bữa tiệc cuối, Người đã để lại cho họ bí tích Thánh Thể (Lk 22,19). Còn các Tông Đồ cũng đã cầu nguyện và đặt tay trên những người được chọn để họ nối tiếp công việc mà Đức Ki-tô trao ban. Một vài người trong đó mang danh hiệu “kỳ mục” - presbytéros (CVTĐ 14,23; 20,17; Tit 1,5). Các vị trợ thủ thời Giáo Hội tiên khởi này là tiền nhân của thừa tác vụ linh mục ngày nay.          

Nhiệm vụ của linh mục được hiểu là một tham dự vào chức “Thượng Tế” hay “Đấng Trung Gian duy nhất” - là Đức Giê-su (Dt 5,5; Tim 2,5).

Thánh Lễ, cuối cùng là một tác động của chính Chúa Ki-tô và của Giáo Hội. Chính Đức Ki-tô hiện diện qua tác vụ của hi tế: trong Lời của Người và dưới hình bánh rượu. Chính Người giảng, hiệp nhất và thánh hóa.

Lễ đã xong,

chúc anh chị em đi bình an 

Theo truyền thống phụng vụ Rô-ma, Thánh Lễ được kết thúc với lời: “Ita, missa est!” - nghĩa là “Hãy đi, đây là kết thúc!” Tự nguồn gốc, lời này được sử dụng trong lãnh vực dân sự thời Rô-ma như một công thức để kết thúc một buổi họp. Chữ missa được dùng trong Thánh Lễ từ đó. Và dần dần, “lời cuối” này của Thánh Lễ đã trở nên cách gọi cho cả Thánh Lễ, giống như trong nhiều ngôn ngữ Châu Âu: mass, messe.

“Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” là một cách giải thích cho lời kết thúc đó, khi sự từ giã được mang tính hòa giải ấm cúng. Phụng vụ Byzanz cũng mang ý nghĩa tương tự: “Chúng ta về trong bình an.” Vì lời kết thúc Thánh Lễ đã được nối kết với việc ban phép lành từ rất sớm, nên missa được hiểu như là một phép lành Chúa ban cho người tham dự lễ. Ơn lành mà người tham dự lễ đón nhận luôn cũng là một trách nhiệm; missa vì thế được hiểu như một sự sai đi, là missio. Hiểu như vậy, missa không chỉ là kết thúc, mà là một khởi đầu của việc sống chứng nhân. Đời sống của Ki-tô hữu phải là “Thánh Lễ nối dài”: lãnh nhận những hồng ân và Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa để loan báo và chia sẻ cho người khác. Bình an và hiệp nhất phải thành xương thành thịt trong cuộc sống hằng ngày người tham dự Thánh Lễ; khi họ “trở về với công việc tốt lành của mình, vừa ngợi khen và chúc tụng Chúa” (57b).

Sau lời giải tán cộng đoàn, linh mục chủ lễ hôn bàn thờ như trước khi bắt đầu lễ, rồi cùng các người giúp lễ chào kính bàn thờ mà ra về (125). Trong mùa Phục Sinh, lời “Lễ đã xong ...” được nối kết với lời tung hô phục sinh “Ha-lê-lui-a”. Theo tập tục phổ biến, cộng đoàn còn có thể hát một bài kính Đức Mẹ và đọc kinh kết thúc.

 

Lạy Chiên Thiên Chúa, ...

Chiên Thiên Chúa là hình ảnh của Đức Giê-su trong Tân Ước: Người là Chiên Vượt Qua. Theo Gio-an, cái chết trên thập tự của Đức Ki-tô làm nền tảng cho truyền thống đó: Đức Ki-tô bị giết vào buổi trưa ngày lễ Vượt Qua, lúc mà trong Đền Thờ theo luật Mô-sê các chiên bị sát tế. Cũng như các chiên hiến tế được ăn khi ống chân không bị đập bể, các người lính đã không đánh giập ống chân Đức Giê-su, bởi vì “các việc này xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh” (Ga 19,31-36).

Gio-an Tiền Hô đã xác định: Đức Giê-su chính là “Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,29.36) và chính Người cũng đã hiểu như vậy. Vì trong bữa tiệc Vượt Qua Người nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy; hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,26tt).

Truyền thống Ki-tô Giáo vẫn luôn tuyên xưng Đức Ki-tô là Chiên Vượt Qua. Người tín hữu được “cứu chuộc nhờ bửu huyết của con chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô”, để trở thành một dân tộc, một “vương quốc Tư Tế mới”, mà dâng những tế lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa. Như dân Do-thái xưa được cứu thoát khỏi Ai-cập, người tín hữu đã được giải thoát khỏi “miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền”, trở nên “hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người” (1 Pr 1,19; 2,5-9).

Đó là một cuộc Xuất Hành thiêng liêng. Được cứu thoát bằng Máu Con Chiên, họ chiến thắng Sa-tan và có thể ca khen “bài ca của Mô-sê và bài ca của Con Chiên” (Kh 12,11;15,3tt) Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu tại Cô-rin-tô: vì “Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua”, nên họ là “bánh không men”, nghĩa là sống với lòng tinh tuyền chân thật (1 Cr 5,7tt).

Trong Kinh Thánh Tân Ước, hình ảnh Chiên Con được sách Khải Huyền dùng đến nhiều nhất để diễn tả quang cảnh ngày Quang Lâm. Trong đó, những nét chính của hình ảnh Đức Ki-tô là Chiên Vượt Qua được giữ, nhưng nhấn mạnh sự đối lập to lớn giữa sự yếu ớt của con chiên bị hiến tế và quyền lực mà Chiên đón nhận khi được nâng cao trên trời.    

Theo tinh thần mới của CĐ Vaticanô II (Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân 26), hiện nay trong giáo xứ, Giáo Hội muốn có hai tổ chức giáo dân giúp đỡ cha xứ trong việc mục vụ và quản trị kinh tế giáo xứ: Hội Đồng Mục Vụ và Hội Đồng Kinh Tế (GL. 536-537). Trong thực tế trên thế giới, Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ vẫn chỉ là mong ước của các vị mục tử.

  1. CẤU TRÚC HĐGX VIỆT NAM 1670-1880.

Khi các thừa sai Dòng Tên thành lập các cộng đoàn bền vững đầu tiên, dân tộc VIỆT NAM đã có một tổ chức xã hội chặt chẽ theo hệ thống đại gia đình và làng xã. Mỗi họ, gia tộc đều có hội đồng gia tộc, gồm các ông trùm – trưởng tộc, lo việc quản trị của hương hỏa, nhà thờ họ, bàn thờ, tủ thờ, sổ gia phả – thế phả và các đồ dùng tế tự. Hội đồng gia tộc được luật pháp (Bộ luật Hồng Đức; Gia Long) công nhận quyền quản trị tài sản và cả quyền xét xử.

Do tinh thần gia tộc và làng xã rất cao, những người VIỆT NAM thế kỷ XVII thường theo đạo Công Giáo từng nhóm lớn, toàn bộ một họ hay một làng. Họ lập tức hình thành "họ đạo" và bầu ra "các trùm họ" để coi sóc "họ đạo" và "nhà thờ họ", lo giữ "sổ họ" và làm "sổ gia đình". Công đồng Dinh Hiến 1670 chia địa phận Đàng Ngoài làm 9 "xứ" để giao cho 9 thầy giảng vừa tiến chức linh mục (duới quyền 3 linh mục thừa sai). Mỗi xứ có một thầy giảng làm trưởng ban tài chính, nhưng do "cha xứ" chịu trách nhiệm với địa phận; trong các họ đạo vẫn do các trùm họ tự điều hành.

Tổ chức "trùm họ", theo mẫu hội đồng gia tộc và hội đồng hương xã lúc đó, có các ưu điểm không chối cãi được qua lịch sử:

- Có khả năng tồn tại và bảo vệ cộng đoàn qua các thời kỳ khó khăn, vắng bóng linh mục lâu năm;

- Có uy tín lớn trong cộng đoàn và thực sự đóng góp rất lớn trong việc xây dựng tinh thần cộng đoàn, nắm vững tình hình dân Kitô giáo;

- Tổ chức linh hoạt việc thờ phượng;

- Đóng góp công của rất nhiều cho cộng đoàn, rất ít khi thâm lạm của chung ….

Tuy nhiên Tổ chức trùm họ cũng  có những nguy cơ thường xuyên đi ngược tinh thần của Giáo Hội:

- Coi linh mục chỉ là một pháp sư được mời tới lo tế tự khi cần;

- Coi mình là đại diện chính thức của họ đạo;

- Coi trọng các hình thức hội hè đình đám mị dân hơn là những công việc căn bản của dân thánh: Phụng vụ chính thức, học hỏi và truyền bá Phúc Âm, bác ái cộng đoàn;

- Chỉ lo cho họ mình, tách rời và đóng kín khỏi môi trường những người ngoại….

Tổ chức trùm họ có công lớn với lịch sử GH Việt Nam và còn bền vững đến hôm nay như một đặc điểm truyền thống và ưu thế của GH Việt Nam.

  1. Giáo Hội miền Bắc sau năm 1954

Sau năm 1954, do thiếu các linh mục và thầy giảng, HĐGX dần dần tự lo việc tổ chức và quản trị giáo xứ.

III. Giáo Hội miền Nam sau năm 1954

Sau Công Đồng Vatican II, các Giám Mục Miền Nam Việt Nam lo nghĩ đến việc cải tổ Hội Đồng Quý Chức, vì những nguyên nhân rõ rệt:

- Tài sản đất đai của giáo hội bị mất quá nhiều, không còn cần đến nhóm "biện việc" quản trị;

- Ảnh hưởng của HĐGX các xứ di cư do dân bầu có uy tín và tích cực hơn;

- Ảnh hưởng của các nhóm tông đồ giáo dân thịnh hành….

Không có điều kiện để ban hành một Directorium cho mọi giáo phận, các Đức Giám Mục tạm giải quyết bằng quy chế riêng biệt của từng giáo phận. Đặc điểm của các quy chế mới là:

- Nhấn mạnh việc do dân bầu hơn;

- Chú trọng đến khả năng cộng tác vào hoạt động mục vụ.

Như thế, tổ chức HĐGX vừa là điều bắt buộc theo Giáo Luật (Điều 536-537), vừa là một truyền thống của Giáo Hội Việt Nam.

Cũng như nhiều yếu tố chúc tụng và tung hô khác (Gloria, Kyrie eleison), lời kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa”, Agnus Dei tiếng La-tinh, là gia sản của Giáo Hội Đông Phương. Nơi đó, cộng đoàn tham gia nhiều hơn trong Thánh Lễ vì không bị trở ngại về ngôn ngữ. Kinh này có nguồn gốc trong phụng vụ Hy-lạp-Xi-ri và được Đức Giáo Hoàng Sergius I (687-701) - một người nước Xi-ri - cho đưa vào phụng vụ La-tinh.

Lời kinh này cũng giống như một khúc nhạc đệm, được cộng đoàn đọc trong lúc linh mục bẻ bánh. Từ thế kỷ thứ 12, lời “Lạy Chiên Thiên Chúa” thường được lặp lại 3 lần; trước đó không có ấn định rõ. Lời kết khi đọc lần thứ ba được thay bằng một lời cầu xin bình an. Tập tục này đến từ thời Trung cổ, khi nghi thức chúc bình an được hình thành. Đức Kitô là của lễ giao hòa muôn đời của loài người. Lời kêu xin lòng thương xót và bình an mang tính cánh chung này được nảy sinh ra từ thực tế cứu độ đó.

Agnus Dei là kinh của tín hữu. Cộng đoàn có thể lập lại lời đầu nhiều lần cho đến khi bẻ bánh xong mới đọc hoặc hát lời xin bình an (56đ) - giống như trong phụng vụ Gia-cô-bê ở Xi-ri.

Việc gọi Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa có nguồn gốc trong Cựu Ước, được đúc kết từ hai ình ảnh chính: Chiên Vượt Qua (Passah) và người tôi trung của Gia-vê. Chiên là một hình ảnh quen thuộc trong Kinh Thánh. Do tính ngây dại và chịu đựng không kêu van khi bị dẫn đi, chiên trở nên một hình ảnh cho sự vô tội, kiên nhẫn và khiêm nhượng. Ở Đông Phương, chiên là con vật ưa được dùng nhất để làm của lễ (Xh 29,38). Khi Thiên Chúa quyết định giải thoát dân Người từ ách nô lệ Ai-cập, Người ra lệnh cho mỗi gia đình Do-thái sát tế một con chiên đực toàn vẹn, không quá một tuổi, ăn thịt nó và bôi máu lên khung cửa. Nhờ dấu máu đó, họ được để sống khi Chúa cho Thần Tru Diệt đi sát hại các con đầu lòng của người và của loài vật trong đất Ai-cập (Xh 12,1tt). Nhờ vào máu chiên Passah mà dân Do-thái được cứu thoát và trở nên một “vương quốc tư tế, một dân thánh”, hiệp nhất trong một Giao Ước và sống theo luật lệ Mô-sê (Xh 19,1tt).

Bị đưa đi tế hiến mà chẳng hề mở miệng kêu ca như một con chiên cũng là tư cách của người tôi trung Gia-vê. Người chết để đền tội cho dân; người không bẻ gẫy cây lau bị giập, không tắt đi tim đèn leo lét (Is 42,1tt; 53,1tt). Đoạn Kinh Thánh diễn tả sự khiêm nhượng và quy phục của người tôi trung báo trước một cách rõ ràng nhất số mạng của Đức Giê-su, như Tông Đồ Phi-líp-phê giải thích cho viên thái giám người Ê-thi-óp (Cv 8,31tt).