Việc phá hủy Đền Thờ và tách biệt cộng đồng những người tin theo Đức Ki-tô ra khỏi Hội trường Do-thái đã dẫn đến sự phát triển các “Nhà thờ gia đình” trong những thế kỷ đầu (100-313). Đây cũng là giai đoạn phát triển mạnh của việc kiến thiết nhà cửa trong vương quốc Rô-ma. Các tư gia rộng lớn chứa được một số người đông thường là những nơi ưu tiên cho việc tập trung cử hành nghi lễ tôn giáo. Những địa điểm thuận lợi cho các nghi lễ là các phòng ăn lớn và các bồn nước trong tiền sảnh. Như thế, các “Nhà thờ” đầu tiên là các tư gia.

Dần về sau, khi số lượng tín hữu gia tăng mạnh, các cộng đoàn đã tạo sửa những địa điểm khác dành riêng cho việc phụng tự thường xuyên. Nghi thức phụng vụ tại các tư gia thường được ấn định rõ ràng. Tất nhiên, những phòng ốc đó cho ta biết rằng các cộng đoàn thời đó không to lắm - chỉ bằng hay lớn hơn một gia đình đông con - chứ chưa phải là một tổ chức quốc tế như ngày nay: không có một trung tâm lãnh đạo, hay có sự đa dạng trong tập tục và niềm tin. Tuy vậy, có nhiều cơ cấu, hình thức phụng vụ và giáo huấn căn bản được hình thành trong giai đoạn giữa thế kỷ thứ 2 vẫn có giá trị đến hôm nay.

Một trong những biến chuyển có ảnh hưởng lớn là việc di chuyển từ tư gia sang những ngôi nhà được tậu, dành riêng cho việc phụng tự và được gọi là Ecclesia. Các hầm toại đạo cũng là những địa điểm đóng một vai trò quan trọng trong phụng vụ Ki-tô Giáo giữa những thời kì bách hại của triều đại Rô-ma. Đó là những mạng lưới đường hầm dưới mặt đất, đôi khi có đến 3-4 tầng, mà dọc hai bên tường được đục khoét ra để chôn người chết. Thỉnh thoảng, có những nhà nguyện nhỏ cuối đường hầm. Ở ngoại thành Rô-ma, người ta đào được hơn 40 hầm như thế.

Sau khi hoàng Đế Konstantin nhận phép rửa tội (395) để trở thành Ki-tô hữu, Ki-tô Giáo bắt đầu một thời kỳ phát triển mới. Giai đoạn bị đàn áp chấm dứt, và từ một “giáo phái bất hợp pháp” Kitô Giáo được ưu đãi và trở thành quốc giáo. Sự thay chuyển từ Giáo Hội Tử Đạo thành Quốc Giáo đánh dấu một biến đổi có tính quyết định cho lễ nghi Ki-tô Giáo. Số lượng Ki-tô hữu gia tăng ngày càng đông đòi hỏi phải tạo dựng một kiểu hội đường mới khác,  để có thể đáp ứng được nhu cầu và hoàn cảnh mới.

Các Vương Cung Thánh Đường, Basilika tiếng Hi-lạp, được xây dựng. Đó một lối kiến trúc phổ biến từ thế kỷ thứ 4 của người Rô-ma; những công trình xây cất vĩ đại này biểu dương quyền lực và vẻ huy hoàng của Đế quốc Rô-ma. Basilika là nơi các Hoàng Đế phán án, là chỗ hội họp, tiếp kiến và là văn phòng thương mại. Ki-tô hữu thời đó lấy kiểu kiến trúc này để làm Giáo Đường. Song song với phát triển này của kiến trúc, vai trò của hàng Giáo sĩ và tu sĩ cũng được phô trương nhiều hơn trong các nghi thức phụng vụ. Ngược lại, cộng đoàn bị tách rời dần khỏi cung thánh, nhất là khi họ được coi như không còn hiểu được ngôn ngữ phụng vụ nữa. Đức Ki-tô, vị “mục tử nhân lành”, trở thành một Hoàng Đế, Ki-tô Vua. Chữ Ecclesia, xưa dùng để chỉ cộng đồng tín hữu sống động, nay trở thành tên gọi cho các ngôi Giáo Đường.