Kế tiếp, linh mục hoặc phó tế đọc hay hát: “Đây là mầu nhiệm đức tin.” Cộng đoàn tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm Đức Ki-tô trong lời đáp riêng. Rồi vị chủ tế cầu nguyện tiếp tục và đọc hoặc hát Kinh Tưởng Niệm (Anamnese). Khi thi hành mệnh lệnh Đức Ki-tô trao truyền lại, Hội Thánh tưởng niệm chính Người: nhắc lại cuộc khổ nạn sinh ơn cứu độ, sự sống lại và lên trời vinh hiển của Người. Kinh Tạ Ơn IV còn nói đến việc Đức Ki-tô “xuống cõi âm ty” sau khi sống lại. Qua sự nhắc nhở và thực thi mệnh lệnh của Đức Ki-tô, mầu nhiệm Thánh Thể được làm sống động và tồn tại mãi mãi.  

Gắn liền với lời Tưởng Niệm là Lời Dâng Tiến. Là Nhiệm Thể Đức Ki-tô, Hội Thánh có ý cho các tín hữu ngoài việc dâng của lễ tinh tuyền lên Thiên Chúa, “còn học cho biết dâng chính mình, và nhờ Đức Ki-tô làm môi giới, mỗi ngày một hiệp nhất hơn với Thiên Chúa và với nhau, để cuối cùng Thiên Chúa là mọi sự trong mọi người” (55e). Con đường đưa đến đích đó là đón nhận Mình và Máu Đức Ki-tô. Do đó mà có lời xin cho việc đón nhận mang lại hoa trái dồi dào, trong một lời kinh được gọi là Kinh Khẩn Cầu.

Trong Lời Chuyển Cầu, cộng đoàn tham dự lễ cầu nguyện cho toàn thể Hội Thánh và cho mọi chi thể, còn sống cũng như đã qua đời, ngay cả cho những ai mà “chỉ một mình Chúa biết họ đã tin tưởng vào Chúa.” Các Kinh Tạ Ơn đều nhắc đến các Thánh Tử Đạo, các Thánh, Đức Maria và các Tông Đồ. Lời cầu này làm sáng tỏ ơn cứu độ hoàn vũ mà Đức Kitô mang lại, cũng như sự hiệp thông của Hội Thánh. Thánh Lễ được mừng với người sống và kẻ chết: Thánh Lễ nối liền đất với trời.

Yếu tố cuối cùng của Kinh Tạ Ơn là Vinh Tụng Ca (Doxologie). Linh mục cầm đĩa với Bánh Thánh và chén, nâng cả hai lên, rồi nói hoặc hát: “Chính nhờ Đức Ki-tô, cùng với Đức Ki-tô, và trong Đức Ki-tô, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Cha là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời.” Qua và trong sự hiệp nhất với Đức Ki-tô, đời sống của chúng ta đạt đến ý nghĩa sâu xa nhất của nó. Lời chúc vinh Thiên Chúa này được cộng đoàn tán đồng và kết thúc bằng lời tung hô “A-men”.

 

Kinh Tạ Ơn bắt đầu với phần đối thoại: “Chúa ở cùng anh chị em; Hãy nâng tâm hồn lên; Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta.” Trong phần đầu này, chúng ta gặp gỡ những yếu tố của truyền thống phụng vụ Do-thái và Ki-tô Giáo cổ xưa. Mục đích của đối thoại đầu Kinh Tạ Ơn là giúp Dân Chúa ý thức tính cộng đồng và liên kết với vị chủ lễ; đồng thời cho thấy rằng Kinh Tạ Ơn không chỉ là việc làm của vị chủ tế, mà còn được coi như là lời nguyện của cả cộng đoàn. Đối thoại kết thúc với lời mời gọi tạ ơn là nội dung chính của toàn cả lời kinh và cả Thánh Lễ.

Sau phần đối thoại là Lời Tiền Tụng - phần chúc tụng chính -, nơi mà sự cảm tạ được nêu lên cụ thể. Thật vậy, Thiên Chúa đáng được chúc tụng luôn luôn và ở khắp mọi nơi. Người là Chúa, là “Đấng thánh”; từ bản thể là “Thiên Chúa vĩnh cửu uy quyền.” Tiếp theo Lời Tiền Tụng là lời tung hô Thánh! Thánh! Chí Thánh! (Sanctus). Linh mục và cộng đoàn đọc hay hát chung phần này (55b; 168).

Con người không có quyền tự ý sử dụng các hành động cứu độ của Thiên Chúa, mà chỉ có thể cầu xin. Chính vì thế, tiếp theo sau Sanctus, linh mục dang tay đọc hay hát Kinh Cầu Xin Chúa Thánh Thần (Epiklese). Đây là lời cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần xuống trên bánh rượu, để biến đổi thành Mình và Máu Đức Giê-su Ki-tô, “đem lại ơn cứu độ cho những ai lãnh nhận” (55c). Khi đọc, linh mục chủ lễ đặt hai tay trên lễ vật và làm một dấu Thánh Giá. Lời cầu xin này trải dài trên của lễ và trên cộng đoàn, với ước mong Chúa Thánh Thần biến đổi lễ vật và cuộc đời các tín hữu.     

Trong Lời Truyền Phép kế tiếp, linh mục tường thuật lại việc lập bí tích Thánh Thể và thực thi những điều chính Đức Ki-tô đã truyền dạy các Tông Đồ trong bữa tiệc sau hết. Khi ấy, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11,23-25). Vào thời Trung cổ, Lời Truyền Phép được bao quanh bằng nhiều cử chỉ long trọng như: xông hương, rung chuông, quỳ gối chiêm ngưỡng. Việc nâng cao Bánh Thánh và Chén Thánh đến từ lòng đạo đức khao khát ngắm nhìn Thánh Thể thời đó, khoảng từ năm 1200.

Hay còn gọi là Kinh Nguyện Thánh Thể, được bắt đầu bằng lời Tiền Tụng và kết thúc với Vinh Tụng Cạ, trước Kinh Lạy Cha. Kinh Tạ Ơn là “điểm trung tâm và cao nhất” của Thánh Lễ, bao gồm nhiều kinh và nghi thức ngắn như những phiên khúc của một bài hát. “Ý nghĩa của lời cầu nguyện này là toàn thể cộng đoàn tín hữu kết hiệp với Đức Ki-tô mà tuyên xưng những kỳ công của Thiên Chúa và hiến dâng hy lễ” (54).

Phụng vụ Rô-ma gọi phần này là canon, nghĩa là “phần chính” và không cho phép thay đổi gì cả. Ở các Giáo Hội Đông Phương, Kinh Tạ Ơn được trình bày bằng nhiều hình thức khác nhau. Mặt khác, nhiều lý do thần học và thực tiễn khác dẫn đến những thói quen lạ kỳ vào thời Trung cổ, như chỉ cho phép đọc thầm phần Kinh Tạ Ơn sau Lời Tiền Tụng và Sanctus. Luật đọc thầm này được giữ mãi đến Công Đồng Vatican II. Cộng đoàn tham dự lễ hoặc đã không nghe hay không hiểu kinh này, vì kinh được đọc bằng tiếng La-tinh. Nguyên nhân cũng vì Canon được coi là một phần đầy tính huyền nhiệm, do “lời truyền phép” trong đó có sức mạnh “thần thánh” biến đổi bánh thành Mình Thánh và rượu thành Máu Thánh Đức Ki-tô.

Cho đến năm 1968, nghĩa là hơn 1500 năm, phụng vụ Rô-ma chỉ dùng Kinh Tạ Ơn I mà thôi, còn được gọi là Lễ Quy Rô-ma. Lời kinh này là một cấu trúc nghệ thuật rõ ràng và oai nghiêm, bao gồm nhiều đoạn ngắn độc lập kết hợp với nhau một cách đối xứng, chung quanh lời truyền phép và lời tưởng niệm ở giữa Kinh Nguyện Thánh Thể. Công Đồng Vatican II cho sử dụng thêm các kinh khác. Kinh Tạ Ơn II là kinh ngắn nhất, được soạn theo một kinh của Hippolit đã có từ đầu thế kỷ 3. Kinh Tạ ơn III phát triển rộng ý tưởng hy lễ. Kinh Tạ Ơn IV chứa đựng nhiều yếu tố của phụng vụ Basilius (Đông Phương): trình bày lịch sử cứu độ từ tạo thiên lập địa cho đến biến cố cứu độ Giáng Sinh, Phục Sinh, Quang Lâm và Hiện Xuống. Ngoài ra, còn có thêm nhiều Kinh Tạ Ơn khác cho dịp hội họp, cho Thánh Lễ hòa giải, cho Thánh Lễ trẻ em.

Hình thức Kinh Tạ Ơn xuất phát từ lời chúc lành tại bàn ăn của người Do-thái, được nhắc lại nhiều lần trong Cựu Ước, và là một đặc trưng cho lòng đạo đức của Dân Riêng. Qua việc kể lại những kỳ công hay ơn phúc, họ chúc tụng Đấng Tạo Hóa đã che chở và đồng thời xin Chúa tiếp tục giữ gìn dân tộc họ. Khi lập phép Thánh Thể, Đức Ki-tô cũng đọc lời tạ ơn chúc tụng trên lễ phẩm; bẻ ra và trao cho các môn đệ với lời giải thích cho một thực tại và ý nghĩa mới: “Này là Mình Ta; này là Máu Ta.” Lời Tạ ơn này là việc làm đặc biệt của Thánh lễ, điều mà cộng đoàn các Tông Đồ đã tiếp tục thực hiện sau khi Đức Ki-tô phục sinh và lên trời.

Kinh Sám Hối

“Tôi thú nhận” là kinh quen thuộc nhất của nghi thức sám hối. Ngoài ra, còn có hai mẫu khác cho Nghi Thức Sám Hối. Trước khi bắt đầu Thánh Lễ, cộng đoàn ý thức lại và nhìn nhận trước mặt Thiên Chúa thân phận tội lỗi của mình. Công thức thú tội cũ đã có từ thế kỷ thứ 6-7, được tiếp nhận từ Giáo Hội Đông Phương. Kinh Sám Hối mà chúng ta dùng hiện tại được phát triển dựa vào những lời thú tội cá nhân và được quy cách hóa trong Sách Lễ Tridentinô.

Lúc đầu, kinh này chỉ được linh mục và các người giúp lễ đọc riêng trong nhà mặc áo như là một cử chỉ chuẩn bị cho Thánh Lễ. Vào thời Trung cổ,  kinh này được đưa vào đầu Thánh Lễ, được linh mục và các người giúp lễ đọc trên bậc thềm cung thánh (Kinh tiến bậc).   

Tội không chỉ là một đặc điểm không thể tránh của bản chất con người, mà cũng là một điều riêng tư sâu kín nhất của mỗi cá nhân. Do đó mà mỗi người chỉ có thể thú nhận cho chính mình. Mặt khác, cùng đọc chung với cộng đoàn Kinh Sám Hối nói đến một bình diện quan trọng khác của tội: đó là trách nhiệm với cộng đoàn. Một con sâu làm rầu nồi canh: những điều sai trái của mỗi cá nhân không chỉ có ảnh hưởng xấu đến tâm hồn của người đó, mà còn gây thương tích và ảnh hưởng xấu đến cả cộng đoàn và Giáo Hội.

Đó có thể là “những điều thiếu sót”, do đã bỏ qua những cơ hội để giúp đỡ đồng loại hay những sao nhãng vô tình. Đó cũng có thể là những hành động được tập dượt trong tính toán suy nghĩ - nên tội đã bắt đầu từ “trong tư tưởng”. Ngôn ngữ là một phương tiện để chúc tụng ca ngợi Thiên Chúa, để loan truyền điều tốt lành và gây tạo hòa bình. Nhưng thực tế cuộc đời cho thấy lời nói được dùng để gây chia rẽ, dèm pha và tạo bất bình. Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã nhận ra vai trò của lời nói khi ngài viết: “Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác... Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa” (3,2-10). Đọc Kinh Sám Hối vì thế là việc bộc lộ tình trạng nội tâm, cũng như tuyên xưng niềm tin rằng chúng ta cũng sẽ được xét xử, thưởng phạt theo việc mình đã làm (Mt 16,27). Việc làm của chúng ta làm hôm nay sẽ theo ta mãi (Kh 14,13).

Tội luôn là kiêu căng tự phụ, cho rằng tự mình sẽ làm được mọi sự mà không cần đến Thiên Chúa. Đấm ngực và nói “lỗi tại tôi” là cử chỉ của kẻ khiêm nhường hối tội, diễn tả tâm tình thống hối ăn năn nhìn nhận thân phận tội lỗi (Lc 18,13), khi đối diện với Đấng yêu thương mình là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng biết rõ mọi sự (Ga 21,17). Trước tòa Thiên Chúa, chúng ta cần đến Đức Ma-ri-a, các thiên thần, các thánh - là những vị cùng đến xét xử với Thiên Chúa trong “Ngày của Chúa” (Lc 22,30) -, cũng như người chung quanh cầu thay nguyện giúp cho ta. Nhìn nhận thân phận yếu hèn của mình luôn đi đôi với sự công nhận lòng từ ái, sự thánh thiện cao cả của Thiên Chúa. Và vì vậy, kinh “Tôi thú nhận” cũng luôn là lời chúc tụng lòng nhân ái của Thiên Chúa. Linh mục kết thúc lời thú tội bằng lời xá giải. Cộng đoàn đáp A-men.

Trong những thập niên gần đây, Trung Đông đã thực sự trở thành Điểm Nóng thế giới.

Trước đây 3000 năm, khi dân Israel được Thiên Chúa giải  thoát khỏi cảnh tù đày Ai Cập một cách kỳ lạ dưới sự chỉ đạo của ông Mai Sen, Thiên Chúa đã hứa “ban cho họ đất Cana, miền tràn đầy sữa và mật ong”.   Dưới sự lãnh đạo của Joshua, Thiên Chúa để cho Israel đi chinh phạt dân Cana và định cư tại đó. Cuối cùng vua David đã làm chủ được thị trấn “Zion”, rồi đổi thành “Thị trấn David”. Israel đã trở thành một quốc gia hùng mạnh dưới trào David và Solomon và lấy Jerusalem làm thủ đô. Solomon xây đền thờ rất huy hoàng Sau khi vua Solomon băng hà, Israel bị chia làm hai. Jerusalem tiếp tục là thủ đô của vương quốc miền Nam Judah.

Khi quân đội La Mã dẹp tan cuộc nội loạn của Do Thái vào năm 70, thì Jerusalem và Đền Thờ lại một lần nữa bị phá tan hoang. Nhiều thế kỷ sau, vào năm 638, người Ả Rập Hồi Giáo chiếm thị trấn. Từ đó Jerusalem cứ thế thay đổi chủ này qua chủ khác nhiều lần. Năm 1517 đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman nắm quyền thống trị Trung Đông trong 4 thế kỷ.

Năm 1917, thời thế chiến I, Anh đánh bại đế quốc Ottoman và chiếm được Đất Thánh, lúc đó gọi là Palestine. Cuối cùng năm 1948 sau khi Anh Quốc vì áp lực phải nhường quyền, LHQ đã chia vùng đất này thành hai: Ả Rập và Do Thái.  Khi Anh quốc rút lui, thì tân quốc gia Israel được khai sinh. Ít giờ sau, quân đội của năm quốc gia Ả Rập ở chung quanh tấn công Israel, với quyết tâm tiêu diệt luôn. Nhưng sau nhiều tháng chiến đấu, Israel đã thắng. Tuy nhiên, họ còn phải tiếp tục cuộc chiến tự vệ qua những năm 1956, 1967 và 1973  và vì nhiều sung khắc bất đồng lớn khác nữa.  Trong trận chiến 6 ngày năm 1967 Israel đã kiểm soát được Thị Trấn Cổ -tức phía Đông Jerusalem gồm cả Đồi Đền Thờ. Tuy nhiên để bớt áp lực và tránh đụng độ lớn, Israel đã để Hồi Giáo kiểm soát tôn giáo ở Đồi Đền Thờ.

Phong trào bài Do Thái vẫn tiếp tục trên toàn thế giới. Iran nhất định chế tạo khí giới hạch nhân. Syria hoang tàn vì nội chiến. Cuộc xung đột Ả Rập-Israel bùng nổ. Kháng chiên quân Hồi Giáo muốn tiêu diệt Israel. Họ ghét cay ghét đắng Hoa Kỳ vì đã ủng hộ và yểm trợ Israel.  Ngày nay, Israel là nước nhỏ phải chống trả với một láng giềng thù nghịch lớn có 57 quốc gia Hồi Giáo, và cả 22 nước Ả Rập nên Israel thường coi mình như David chống cự với anh chàng khổng lồ Goliah.

Những gì đang xảy ra tại vùng Trung Đông đe dọa Hòa Bình và sự sống còn của thế giới. Các nhà lãnh đạo trên thế giới cố gắng tìm giải pháp nhưng càng ngày càng khó. Chúng ta cầu xin Chúa Giêsu trở lại sớm để ban hòa bình, không chỉ cho Jerusalem mà cho toàn thế giới.    

( Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh)

 

Kinh Lạy Chúa, xin Thương Xót

“Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con”, hay Kyrie eleison theo tiếng Hy-lạp. Mỗi lời tung hô thường được hát hay đọc hai lần sau nghi thức sám hối; nhưng cũng có thể hát nhiều lần hoặc cho xen vào một lời nguyện ngắn, tùy theo hoàn cảnh, đặc tính ngôn ngữ hay nghệ thuật âm nhạc (30). Kyrie eleison là lời đáp của cộng đoàn trong một kinh cầu xin (Ektenien) ở Giáo Hội Đông Phương, được Giáo Hoàng Gelasius (492-496) cho đưa vào phụng vụ Rô-ma để thế chỗ cho các lời nguyện giáo dân ở cuối phần Phụng Vụ Lời Chúa, như trong nghi thức Thứ Sáu tuần Thánh vẫn còn.

Vì là lời đáp, nên Kyrie eleison có thể lập lại nhiều lần tùy theo số lượng của lời cầu xin. Đức Giáo Hoàng Gregor Cả (590-604) cho rút ngắn lại còn 9 lần (3x3), cũng như ấn định việc thay đổi lần lượt giữa lời “Xin Chúa ..., và Xin Chúa Ki-tô...” Đây cũng là nền tảng cho việc giải thích trong thời Trung cổ: hát như vậy là nhắc nhớ đến Ba Ngôi Thiên Chúa: 3 lần cho Chúa Cha, 3 lần Chúa Con và 3 lần Chúa Thánh Thần. Về sau, Kyrie eleison được di chuyển từ cuối phần Phụng Vụ Lời Chúa lên phía trước và được hát hoặc đọc như hiện nay.

Xét về nguồn gốc, Kyrie eleison đến từ nghi thức tôn thờ thần Thái Dương, cũng như từ sự sùng kính các vương đế và tư tế như thần thánh. Trong đó, một người hát xướng một lời chúc tụng và toàn dân đáp lại bằng một lời tung hô hay cầu xin. Nghi thức này được tiếp nhận vào phụng vụ thời Konstantin (+337). 

Phụng vụ Ki-tô Giáo, dựa vào niềm tin như được xác tín trong các thư của Thánh Phaolô, dùng lời này để chúc tụng, cầu xin và tuyên xưng “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (Ph 2,11). Kyrie trở thành lời ca khen Thiên Chúa, Đấng Nhân Ái, giàu lòng thương xót, tỏ hiện trong Đức Giê-su Ki-tô. Rất tiếc, với thời gian, Kyrie eleison đã mất dần tính tán dương chúc tụng nguyên thủy và trở nên một yếu tố của nghi thức thống hối, hay nói đúng hơn là nghi thức thống hối.