Từ thế kỷ 10, đọc Kinh Thánh trong nhà thờ là nhiệm vụ của “Thầy Hai”; nghĩa là người đã lãnh “chức thứ hai” trong phẩm trật gồm bốn chức. Đó là: chức giữ cửa, chức đọc sách, chức trừ quỷ và chức giúp lễ. Sau khi canh tân phụng vụ thì chỉ còn lại hai chức: đọc sách và giúp lễ. Chức vụ đọc sách xuất phát từ một nhiệm vụ thi thoảng của các thành viên biết đọc trong cộng đồng Do-thái hay Ki-tô Giáo thời sơ khai (Lc 4,16-20).

Cho đến thế kỷ thứ 3, đọc sách là một nhiệm vụ của giáo dân, trước khi trở thành một công việc của giáo sĩ với một nghi thức nhận chức riêng. Đến thế kỷ thứ 5, người đọc sách có chỗ dành riêng trong nhà thờ. Thật vậy, việc này đã là một thành phần trong phụng vụ Ki-tô Giáo trong những thế kỷ đầu, như Giustinus Tử Đạo (+165) tường trình. Hippolyt (+235) cũng đã nhắc đến việc ủy quyền và hướng dẫn người đọc sách.

Ở Tây Phương, các thiếu niên được tuyển chọn cho công việc phụng vụ này từ thế kỷ thứ 4. Đặc biệt tại Ý, Tây Ban Nha, Pháp và Châu Phi, những trường lớp đào tạo riêng được thành lập. Công Đồng Vaison (529) và Toledo (531) cũng khuyên lập các “Trường đào tạo người đọc sách” (schola lectorum) ngay tại các nhà xứ. Tiểu chủng viện của thế kỷ thứ 16 là một nối tiếp truyền thống đó. Sau đó, việc đọc sách trong các nghi thức phụng vụ được các phó tế và trợ tế đảm nhiệm. Ngày nay, mỗi giáo dân có thể thi hành nhiệm vụ đọc các bài từ Kinh Thánh trong phụng vụ. Chỉ có bài Tin Mừng (Phúc âm) là dành cho linh mục hay phó tế.